BỆNH VIỆN SẢN NHI VĨNH PHÚC

03 Phương pháp sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú

03 PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ 

Ung thư vú là bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư nếu không được phát hiện kịp thời. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp ung thư vú có thể được phát hiện ở giai đoạn sớm thông qua sàng lọc định kỳ, khi bệnh chưa có biểu hiện rõ ràng và khả năng điều trị khỏi rất cao.

Theo Hướng dẫn sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú của Bộ Y tế năm 2025, việc lựa chọn phương pháp sàng lọc phù hợp cần dựa trên độ tuổi, mức độ nguy cơ và điều kiện của cơ sở y tế. Các phương pháp sàng lọc hiện nay bao gồm tự khám vú, khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang tuyến vú, siêu âm và chụp cộng hưởng từ tuyến vú.

Việc hiểu đúng vai trò, chỉ định và hạn chế của từng phương pháp sẽ giúp phụ nữ chủ động tham gia sàng lọc, góp phần phát hiện sớm ung thư vú và giảm nguy cơ tử vong do bệnh.

1. Tự khám vú sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú

Khái niệm và vai trò

Tự khám vú là phương pháp người phụ nữ tự quan sát và sờ nắn vú nhằm phát hiện sớm các thay đổi bất thường như khối u, vùng dày lên hoặc biến đổi da, núm vú và vùng nách.

Tự khám vú không thay thế các phương pháp sàng lọc tại cơ sở y tế, nhưng giúp phụ nữ chủ động phát hiện sớm dấu hiệu bất thường để đi khám kịp thời.

Kỹ thuật tự khám vú

Khuyến cáo phụ nữ từ 25 tuổi trở lên thực hiện tự khám vú mỗi tháng một lần, tốt nhất sau sạch kinh khoảng 5 ngày.

06 bước tự khám vú
06 bước tự khám vú (Nguồn: Bộ y tế)

Các bước thực hiện gồm:

Tự khám vú khi đứng (trước gương):

  • Quan sát hai vú khi tay buông xuôi, tay đưa ra sau gáy và khi chống tay vào hông để phát hiện thay đổi hình dạng, da, núm vú.

  • Ấn nhẹ quầng vú xem có dịch chảy ra hay không.

Sờ nắn vú:

  • Dùng các ngón tay sờ nắn toàn bộ tuyến vú theo hình xoắn ốc hoặc hình nan hoa, từ núm vú ra ngoại vi và vùng hố nách.

Tự khám vú khi nằm:

  • Nằm ngửa, kê gối mỏng dưới vai bên khám và thực hiện các thao tác sờ nắn tương tự như khi đứng.

Các triệu chứng báo hiệu ung thư vú

– Sở thấy khối u vú.

– Một bên vú dày chắc hơn bên kia.

– Một bên vú to lên.

– Một bên vú xệ xuống bất thường.

– Da vùng vú bị lồi lõm, co kéo bất thường.

– Núm vú tụt.

– Thay đổi màu sắc trên da của vú.

– Hạch nách hoặc hố thượng đòn to.

– Chảy dịch một bên vú.

– Đau hoặc đỏ vú.

Các dấu hiệu này có thể gặp trong bệnh lý lành tính hoặc ác tính, nhưng cần đi khám sớm để được đánh giá chính xác.

2. Khám lâm sàng tuyến vú sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú

Khám lâm sàng là một biện pháp sàng lọc ung thư vú, thực hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến ban đầu trở lên và được khám bởi các bác sĩ được đào tạo về khám vú.

Chỉ định

  • Khi phát hiện bất thường qua tự khám vú

  • Phụ nữ nguy cơ trung bình:

    • 25–39 tuổi: 1–3 năm/lần

    • ≥40 tuổi: 1 năm/lần

  • Phụ nữ nguy cơ cao: 1 năm/lần từ 25 tuổi

Nội dung khám

  • Khai thác tiền sử bản thân, gia đình, các yếu tố nguy cơ

  • Quan sát vú ở nhiều tư thế

  • Sờ nắn toàn bộ tuyến vú và khám hạch nách, hạch thượng đòn

  • Phân nhóm nguy cơ và tư vấn lịch sàng lọc phù hợp

3. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh bao gồm chụp X-quang tuyến vú, siêu âm tuyến vú, chụp cộng hưởng từ tuyến vú

3.1. Chụp X-quang tuyến vú (Mammography)

Chụp XQuang tuyến vú (Nguồn ảnh Bộ y tế)
Chụp XQuang tuyến vú (Nguồn ảnh Bộ y tế)

Chụp X-quang tuyến vú là biện pháp tốt nhất, duy nhất được chứng minh làm giảm tử vong trong UTV. Chụp X-quang tuyến vú có thể phát hiện ung thư từ 1,5 năm đến 4 năm trước khi ung thư trở nên rõ ràng trên lâm sàng.

Chỉ định

– Chụp định kỳ 1 năm/lần trong sàng lọc phát hiện sớm UTV trong những trường hợp sau:

+ Phụ nữ ≥40 tuổi có nguy cơ UTV trung bình.

+ Bắt đầu 8 năm sau xạ trị nhưng không trước 25 tuổi ở phụ nữ có tiền sử xạ trị vùng ngực từ 10 đến 30 tuổi.

+ Bắt đầu 10 năm trước khi người trẻ nhất trong gia đình bị, không trước 30 tuổi hoặc bắt đầu chậm nhất ở tuổi 40 (tùy theo điều kiện nào đến trước) đối với phụ nữ có tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc UTV hoặc có các nguy cơ về di truyền học (mang gen, hội chứng di truyền).

Ví dụ: một người trong gia đình có nguy cơ về di truyền học hoặc phát hiện mắc ung thư vú năm 35 tuổi thì những người khác trong gia đình có chỉ định chụp X-quang tuyến vú sàng lọc từ năm 30 tuổi. Hoặc một người trong gia đình phát hiện mắc ung thư vú năm 55 tuổi thì những người khác trong gia đình có chỉ định chụp X-quang tuyến vú sàng lọc bắt đầu từ năm 40 tuổi.

+ Bắt đầu từ khi chẩn đoán ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc quá sản không điển hình nhưng không trước 30 tuổi.

– Chụp kiểm tra định kỳ theo dõi tất cả các tổn thương có thể thấy trên phim.

– Những phụ nữ có dấu hiệu bất thường tại vú như sở thấy u, tiết dịch bất thường đầu núm vú, tụt núm vú, đau vú, hạch nách bất thường, các ung thư tại các cơ quan khác nghi di căn từ vú đến…

– Chụp X quang định vị kim dây dẫn hướng sinh thiết mở chẩn đoán mô bệnh học, chụp kết hợp với chụp ống tuyến sữa cản quang…

Chống chỉ định

– Những trường hợp đang có dấu hiệu viêm tấy, áp xe tuyến vú, vỡ loét.

– Tuần đầu sau phẫu thuật tại vú, sau sinh thiết tại vú.

– Lưu ý: các trường hợp có đặt túi ngực cần chụp theo kỹ thuật Eklund.

Chụp XQuang tuyến vú ở phụ nữ có đặt túi ngực (Nguồn ảnh Bộ y tế)
Chụp XQuang tuyến vú ở phụ nữ có đặt túi ngực (Nguồn ảnh Bộ y tế)

Kết quả được phân loại theo BI-RADS (0–6) để quyết định theo dõi, can thiệp hoặc sinh thiết.

Hạn chế của chụp X-quang tuyến vú

– Chỉ áp dụng được ở các cơ sở y tế có máy chụp X-quang vú.

– Khó đánh giá tổn thương đối với tuyến vú có nhu mô đặc.

– Khó đánh giá tổn thương ở vùng sát thành ngực.

– Khó đánh giá ở bệnh nhân đặt túi ngực.

– Có tia bức xạ ion hoá.

– Khó phân biệt tổn thương lành và ác tính, cần phối hợp thêm với siêu âm/MRI hoặc sinh thiết.

– Phụ thuộc vào chất lượng hình ảnh, năng lực của người chụp, người đọc.

3.2. Siêu âm tuyến vú

Siêu âm tuyến vú là phương tiện bổ trợ quan trọng cho X-quang tuyến vú, đặc biệt ở phụ nữ có mật độ tuyến vú đặc, phụ nữ trẻ hoặc có đặt túi ngực.

Siêu âm giúp:

  • Phân biệt u nang và u đặc

  • Đánh giá tổn thương không rõ trên X-quang

  • Hướng dẫn các thủ thuật chẩn đoán như chọc hút, sinh thiết

Siêu âm không nên dùng đơn độc trong sàng lọc ung thư vú.

Chỉ định

– Kết hợp với X-quang vú để đánh giá các tổn thương u vú sở thấy trên lâm sàng.

– Đánh giá hình thái, cấu trúc để chẩn đoán phân biệt u nang với u đặc.

– Người bệnh có mật độ tuyến vú đặc, phụ nữ chưa có gia đình, chưa có con, nuôi con không cho bú…,

– Các trường hợp có đặt túi ngực, hạn chế chẩn đoán trên phim chụp X-quang.

– Những trường hợp có dấu hiệu viêm, đau vú, vỡ loét, áp xe.

– Chảy dịch đầu vú (cần kết hợp với chụp X-quang vú và chụp ống tuyến sữa cản quang).

– Chỉ định tầm soát định kỳ ưu tiên cho phụ nữ nguy cơ cao dưới 30 tuổi

– Siêu âm kiểm tra định kỳ theo dõi tổn thương.

– Hướng dẫn can thiệp chẩn đoán (chọc hút tế bào kim nhỏ, sinh thiết kim lõi…).

Chống chỉ định

Không có.

Các tổn thương phát hiện trên siêu âm

Một số phát hiện có thể thấy trên siêu âm như u nang, u xơ tuyến, u mỡ, hạch, các u lành khác.

– Nang tuyến vú là tổn thương thường thấy trên siêu âm với kích thước và hình dạng khác nhau, thường là lành tính.

– U xơ tuyến hoặc các khối u đặc khác đôi khi cần được đánh giá sâu hơn để loại trừ ác tính.

– U mỡ thường là lành tính, khối u có bờ rõ, giảm âm. U mỡ không cần đánh giá sâu thêm trừ khi có triệu chứng hoặc gây khó chịu.

Siêu âm cũng có thể tình cờ phát hiện hạch và cần đánh giá thêm để loại trừ ung thư. Tuy nhiên hạch sưng lên cũng có thể là kết quả của viêm nhiễm.

Tùy vào đặc điểm các tổn thương phát hiện được và khai thác bệnh sử, lâm sàng, các yếu tố nguy cơ để phối hợp thêm biện pháp đánh giá khác như chụp X- quang, chụp cộng hưởng từ, sinh thiết. Các tổn thương thấy được trên siêu âm vú cũng được phân loại BI-RADS như trong chụp X-quang tuyến vú.

Hạn chế của siêu âm vú

– Phụ thuộc vào người thực hiện.

– Hạn chế đánh giá tổn thương sát thành ngực.

– Khó phát hiện vi vôi hoá nhỏ.

– Không đánh giá tốt được tổn thương lan rộng, đa ổ.

3.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú

Chup Cong huong tu MRI tuyen vu Nguon anh Internet
Chụp Cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú (Nguồn ảnh Internet)

MRI tuyến vú có độ nhạy rất cao, được chỉ định chủ yếu cho phụ nữ nguy cơ cao hoặc khi các phương pháp khác chưa xác định rõ tổn thương.

MRI giúp phát hiện sớm tổn thương nhỏ, đa ổ, nhưng có giá thành cao, độ đặc hiệu thấp hơn và cần cân nhắc kỹ chỉ định.

Chỉ định

– Khuyến cáo nên chụp MRI tuyến vú có hoặc không có thuốc đối quang từ hàng năm kết hợp với X-quang tuyến vú cho các phụ nữ có nguy cơ cao:

+ Bắt đầu 8 năm sau xạ trị nhưng không trước 25 tuổi ở phụ nữ có tiền sử xạ trị vùng ngực từ 10 đến 30 tuổi.

+ Người mang đột biến gen BRCA1/2, bắt đầu 10 năm trước khi người trẻ nhất trong gia đình bị, không trước 25 tuổi hoặc bắt đầu chậm nhất ở tuổi 40 (tùy theo điều kiện nào đến trước). Ví dụ: Một người mang đột biến gen BRCA1/2, có người trẻ nhất trong gia đình mắc ung thư vú năm 30 tuổi thì chỉ định MRI tuyến vú trong sàng lọc từ 25 tuổi. Hoặc một người mang đột biến gen BRCA1/2, có người trẻ nhất trong gia đình mắc ung thư vú năm 55 tuổi thì chỉ định MRI tuyến vú trong sàng lọc từ 40 tuổi.

+ Bắt đầu từ khi chẩn đoán ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc quá sản không điển hình nhưng không trước 30 tuổi.

– Bệnh nhân từ 40 tuổi không chụp được X-quang tuyến vú hoặc bị hạn chế đánh giá trên X-quang vú như mật độ tuyến vú đặc, có đặt túi ngực làm hạn chế chẩn đoán trên X-quang vú.

– Khi có tổn thương nghi ngờ nhưng khó xác định trên X-quang và siêu âm vú.

Chống chỉ định

– Có cấy thiết bị kim loại không tương thích với MRI như máy tạo nhịp tim, van tim nhân tạo, máy khử rung tim, clip nội sọ kim loại, mảnh đạn, dị vật kim loại…

– Người suy thận nặng (khi chụp MRI có tiêm thuốc đối quang từ).

– Dị ứng với thuốc đối quang từ.

– Phụ nữ có thai (vì thuốc qua hàng rào rau thai) nhưng vẫn có thể chỉ định chụp MRI nếu không tiêm thuốc.

– Người bị hội chứng sợ không gian kín, người không nằm yên lâu/không hợp tác.

Các tổn thương trên MRI vú

Các tổn thương thấy được trên MRI vú cũng được phân loại BI-RADS như trong chụp X-quang tuyến vú.

Hạn chế của MRI vú

– Giá thành cao, khó thực hiện ở cấp khám chữa bệnh ban đầu hoặc cơ bản.

– Độ nhạy cao, đặc hiệu thấp dẫn đến những can thiệp quá mức.

– Không phát hiện tốt vi vôi hoá bằng X-quang vú.

– Cần tiêm thuốc đối quang từ.

– Một số người có chống chỉ định với MRI.

– Thời gian chụp dài, tư thế chụp không thoải mái.

Kết luận

Sàng lọc ung thư vú cần được thực hiện đúng đối tượng, đúng phương pháp và đúng tần suất. Việc kết hợp tự khám vú, khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh phù hợp giúp phát hiện sớm ung thư vú, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tử vong.

Thông tin liên hệ đặt lịch khám tại BỆNH VIỆN SẢN NHI VĨNH PHÚC

Hotline CSKH: 0911.553.115 /Hotline Cấp cứu 24/7: 0859.873.115
Địa chỉ: Km số 9, đường tránh Vĩnh Yên, xã Tề Lỗ, tỉnh Phú Thọ
Phòng khám Sản – Nhi: 394 Đường Mê Linh, Phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ
Email: chamsockhachhang.sannhivp@gmail.com
Fanpage | Zalo | YouTube: Bệnh Viện Sản Nhi Vĩnh Phúc

© 2025 BỆNH VIỆN SẢN NHI VĨNH PHÚC. All rights reserved.